Trước khi in ảnh cũ hoặc chữ viết tay lên quà kỷ niệm, giữ riêng ảnh ban đầu, bản đang chỉnh và bản đã được đồng ý dùng. Ghi chi tiết phải giữ, phần được sửa và món quà sẽ in ảnh. Với đơn số lượng lớn, xem ảnh ở kích thước sản phẩm thật trước khi cho làm tiếp; ảnh rõ trên màn hình chưa cho biết những chi tiết nhỏ sẽ còn rõ trên từng mẫu quà.
Hướng dẫn này dùng khi tư liệu đã có người chịu trách nhiệm xác nhận và đã rõ được phép dùng vào việc gì. Nếu còn chưa chắc về tên, hình hoặc cách gọi, hãy hoàn tất bước duyệt tên cũ, tên mới và tư liệu kỷ niệm trước. Sau đó mới chuẩn bị tệp, chỉnh hình và xem bản in; việc xử lý ảnh không thể thay cho xác nhận lịch sử.
Ghi mục đích của từng ảnh trước khi xử lý
Một ảnh có thể được dùng toàn bộ trong album, lấy một phần cho mặt đĩa hoặc làm căn cứ chọn đường nét của biểu trưng. Những mục đích này cần được ghi rõ vì chúng dẫn tới yêu cầu khác nhau về phần phải giữ và cách trình bày. Người xử lý ảnh không nên chỉ nhận một thư mục rồi tự đoán ảnh nào là hình chủ đạo.
Với mỗi ảnh, ghi mã, ảnh chụp gì, ai giữ bản ban đầu và sẽ dùng lên món nào. Nếu cùng ảnh xuất hiện ở nhiều nơi, ghi nơi nào dùng toàn cảnh, nơi nào dùng phần đã cắt. Điều này giúp người thiết kế không lấy nhầm ảnh đã cắt cho cốc làm ảnh đầy đủ cho album rồi mới phát hiện thiếu chi tiết.
Ghi rõ người nhận cần nhận ra phần nào: khuôn mặt, bảng tên, đường mái, một câu hay nét chữ. Đánh dấu các phần đó để kiểm khi chỉnh ảnh và khi đặt lên mẫu sản phẩm. Thay vì chỉ nhắn “làm đẹp hơn”, hãy nêu chỗ cần sáng, phần phải đọc rõ hoặc mép muốn cắt, để bên thực hiện hiểu đúng việc được yêu cầu.
Chọn cách chụp hoặc quét theo tình trạng ảnh gốc
Nếu đã có file gốc hoặc bản số chất lượng phù hợp, người phụ trách có thể tập hợp và ghi nhận nguồn của file đó. Nếu chỉ có ảnh giấy, trang lưu bút hoặc ảnh nằm trong album, cần xem tình trạng vật thật trước khi lựa chọn cách số hóa. Không nên tự tháo, ép phẳng hoặc tác động vào một tư liệu đang có dấu hư hỏng chỉ để lấy hình nhanh hơn.
Hướng dẫn số hóa của Library of Congress bắt đầu từ mục đích, người sử dụng, cách trình bày và ảnh hưởng lên tài liệu gốc, đồng thời xét tình trạng tư liệu trước khi thao tác. Đây là nguyên tắc tham khảo để chuẩn bị công việc. Những xử lý bảo tồn chuyên môn trong tài liệu không được chuyển thành hướng dẫn tự phục hồi ảnh hoặc giấy quý tại nhà.
Nếu giao ảnh giấy hoặc trang lưu bút cho người hỗ trợ, ghi cách nhận ra tài liệu, tình trạng đang thấy và những phần cần được trả lại. Chưa rõ có thể xử lý mà không làm hỏng thì cần hỏi người phù hợp trước. Có thể dùng bản chụp tạm để bàn cách sắp xếp, nhưng ghi rõ không dùng bản đó để in cuối.
Lưu ảnh ban đầu và bản đang chỉnh thành các tệp riêng
Giữ bản ban đầu để đối chiếu; cắt, chỉnh sáng hoặc làm sạch trên bản sao. Đặt tên tệp sao cho tìm được nguồn và biết bản đang ở bước nào, chẳng hạn mã ảnh đi cùng “đang chỉnh” hoặc “đã duyệt”. Không cần đặt mã quá phức tạp, nhưng người nhận tệp phải biết rõ bản nào được phép dùng.
Ví dụ giả định, một ảnh cổng trường có bản toàn cảnh, bản làm việc được cắt cho mặt đĩa và bản đã duyệt cho in. Cả ba cùng mang mã nguồn, nhưng tên file chỉ rõ mục đích. Nếu người thiết kế album cần toàn cảnh, họ biết phải dùng bản nào thay vì nhận một ảnh đã bị cắt rồi cố lấy lại phần không còn trong file.
Mọi nội dung mô tả file nên khớp với hình. Không đặt tên “ảnh gốc” cho bản đã được làm sạch nhiều vùng hoặc ghép thêm chi tiết. Nếu ảnh nguồn chưa rõ ngày, cách đặt tên không nên tự tạo một năm chính xác. Thông tin chưa được xác nhận tiếp tục được ghi theo mức dữ liệu đã có trong hồ sơ chủ thể.
Đánh dấu cụ thể phần được chỉnh
Có thể ghi chú ngay trên một bản sao: phần ảnh nghiêng cần cân lại, mép thừa muốn cắt, vết bám cần xem hoặc chỗ chữ khó đọc. Với từng vùng, nói rõ muốn làm gì và được sửa đến đâu. Yêu cầu cân ảnh cho ngay ngắn không nên bị hiểu thành cho phép thay gương mặt hoặc nội dung trong ảnh.
Những sửa đổi ảnh hưởng gương mặt, bảng tên, nét công trình hoặc chữ viết cần được xem riêng cạnh bản ban đầu. Nếu công cụ xử lý tự thêm chi tiết vào chỗ thiếu dữ liệu, ghi rõ phần đó để người phụ trách quyết định có dùng không. Chi tiết trông hợp lý sau khi chỉnh vẫn chưa thể coi là thông tin lịch sử đã được xác nhận.
Nếu ảnh đã được chỉnh để minh họa câu chuyện, đặt tên và chú thích đúng với cách dùng đã được đồng ý, tránh khiến người nhận tưởng đó là ảnh tư liệu nguyên vẹn. Với chi tiết quan trọng chưa biết rõ, có thể giữ nguyên tình trạng, chọn ảnh khác hoặc đổi cách thể hiện. Không cần buộc một ảnh phải cho thấy thông tin mà nguồn chưa có.
Kiểm chất lượng ở kích thước sản phẩm dự kiến
Adobe phân biệt ảnh raster với đồ họa vector: ảnh raster gắn với số điểm ảnh, còn vector có cách biểu diễn cho phép thay đổi kích thước khác. Vì vậy, một ảnh chụp cũ cần được đánh giá như ảnh. Đổi đuôi file hoặc đặt ảnh vào một tài liệu thiết kế chưa tự làm cho mọi chi tiết trở nên rõ hơn khi in lớn.
Gửi kích thước và vị trí dự kiến in để bên thực hiện cho biết cần tệp ảnh như thế nào. Một mức độ phân giải chung không trả lời được mọi trường hợp. Cần xem sẽ cắt lấy phần nào, phải nhìn rõ chi tiết gì và kết quả trên mẫu đã chọn, rồi mới quyết định ảnh có phù hợp.
Với đĩa lưu niệm ảnh trường, bản duyệt nên cho thấy phần ảnh nằm trong vùng mặt đĩa và chi tiết bị cắt nếu có. Với một trang sách, cần xem ảnh cùng chữ và phần gần gáy. Việc kiểm theo đúng bối cảnh sử dụng giúp người phụ trách quyết định thay ảnh, chỉnh bố cục hoặc yêu cầu mẫu phù hợp.
Chữ viết tay cần được duyệt cả hình và nội dung
Khi dùng chữ viết tay, cần giữ cả nét viết và ý nghĩa lời nhắn. Nếu muốn in nét gốc, chuẩn bị hình có thể đối chiếu với nguồn. Nếu muốn đánh máy lại, cần bản chép chữ đã được xác nhận. Có thể dùng cả hai trong một ấn phẩm, nhưng ghi rõ để người đọc phân biệt đâu là nét viết ban đầu và đâu là phần trình bày lại.
Với chữ khó đọc, không tự đoán tên hoặc từ còn thiếu để hoàn thiện bố cục. Người phụ trách nội dung cần xem nguồn và xác nhận cách đọc. Nếu vẫn chưa rõ, quyết định phần nào được sử dụng phải được ghi lại. Người xử lý hình chỉ nên thực hiện trong phạm vi đã có câu trả lời, không biến nét khó đọc thành một chữ khác theo cảm giác.
Nếu dòng viết có nhiều khoảng trống hoặc một chữ nằm riêng ở mép, việc cắt và sắp lại cần được xem như một thay đổi. Người duyệt nên thấy bản trước và sau để biết bố cục mới còn giữ đúng câu và ngữ cảnh. Với chữ ký, giữ đúng cách sử dụng đã được chủ thể xác nhận; bài hướng dẫn không coi một ảnh chữ ký là thành phần trang trí được dùng tự do.
Xem kỹ những chi tiết cần giữ, ngoài ảnh toàn cảnh
Kiểm những vùng đã đánh dấu trước khi chỉnh: bảng tên, người ở mép ảnh, chữ có dấu, nét viết đặc trưng hoặc chi tiết kiến trúc. Đặt bản chỉnh cạnh nguồn và ghi nhận từng vùng còn đúng không. Ảnh toàn cảnh sáng hơn có thể dễ nhìn, nhưng vẫn cần kiểm các phần này để biết có mất nét hoặc đổi nội dung quan trọng không.
Giả định ảnh lớp có một tờ bảng ở phía trước mang tên khóa. Sau khi cắt cho mặt cốc, bảng chỉ còn một phần. Người phụ trách cần quyết định giữ khung rộng hơn, chọn bề mặt khác hoặc đưa tên khóa thành chữ riêng theo bản đã duyệt. Không tự điền lại phần chữ trong ảnh rồi mô tả đó là bản chụp nguyên vẹn.
Ví dụ giả định khác, lời nhắn viết tay có một từ chưa đọc rõ và vết bám sát nét chữ. Khi làm sạch, phải xem nét có bị thay đổi không. Nếu chưa đủ căn cứ, có thể chọn đoạn khác đã được xác nhận hoặc chưa đưa tư liệu này vào bản cuối. Người phụ trách quyết định dùng câu nào trước; người chỉnh hình thực hiện theo phần đã được đồng ý.
Gửi đúng bản ảnh cho từng món quà hoặc trang in
Nếu ảnh dùng làm biểu trưng, người thiết kế có thể cần toàn cảnh cùng ghi chú những chi tiết phải giữ. Hướng dẫn chọn biểu trưng lưu niệm theo câu chuyện giúp quyết định phần có thể lược bớt. Vì vậy, khi chuẩn bị tệp, giữ đủ chi tiết cho người phụ trách xem xét trước, không tự cắt mất phần họ có thể cần.
Khi ảnh và chữ đi vào ấn phẩm, cần gắn mã tư liệu với trang hoặc vị trí sử dụng. Hướng dẫn thiết kế sổ kỷ niệm và trang lời ngỏ giúp chốt mẫu trang đại diện. Một ảnh được duyệt trên trang đơn không tự xác nhận mọi cách đặt qua trang đôi hoặc trên một vật thể khác.
Khi gửi, ghi bản nào dùng để thực hiện và bản nào chỉ để xem nguồn. Nếu có sửa tiếp, nói rõ tệp mới thay tệp nào và ảnh hưởng những sản phẩm hoặc trang nào. Gom bản cuối và xác nhận lại với người nhận tệp, để họ không phải đoán từ nhiều lần gửi qua email và nhóm trò chuyện.
Nếu một tư liệu được dùng ở cả bản màu và bản đen trắng, hãy đặt hai bản cạnh nhau khi duyệt. Chi tiết dễ thấy nhờ màu ở bản đầu có thể khó phân biệt trong bản sau; chẳng hạn đường ranh mái ngói với tán cây hoặc nét mực đỏ trên giấy đã ngả vàng. Ban liên lạc cần kiểm lại đúng chi tiết quan trọng ở mỗi phiên bản. Ghi rõ bản chuyển đen trắng được tạo để phù hợp cách thể hiện trên món quà, tránh để người nhận sau này hiểu đó là màu sắc của ảnh gốc.
Duyệt cùng một ảnh khi dùng trên nhiều loại quà
Một ảnh trường có thể được in ở bìa sổ, đĩa và thiệp với cách cắt khác nhau. Lập bảng ghi mỗi nơi dùng bản nào, phần được cắt và chú thích đi kèm. Bản cắt cho đĩa không tự thay ảnh trên trang kỷ yếu, nơi có thể cần giữ đủ tên người hoặc chi tiết công trình. Ghi mẫu quà và số phần của từng bản để tránh lấy nhầm ảnh chưa chỉnh khi chia việc. Thời kỳ của ảnh và quyền dùng trong chương trình vẫn được xác nhận trong hồ sơ tên và tư liệu kỷ niệm.
Phiếu duyệt ảnh cũ và chữ viết tay
| Trường thông tin | Nội dung dùng để kiểm |
|---|---|
| Mã tư liệu | Mã nguồn, người phụ trách hồ sơ và tình trạng dữ liệu đã được xác nhận. |
| Mục đích | Hiện vật hoặc ấn phẩm sử dụng, vùng thể hiện và phần phải nhận ra. |
| Bản nguồn | File hoặc tư liệu được giữ làm căn cứ đối chiếu. |
| Bản làm việc | Phiên bản, các vùng đã chỉnh, phần cắt và những điểm còn chờ. |
| Chữ viết tay | Bản hình, bản đọc chữ nếu có và phạm vi trình bày lại đã duyệt. |
| Bản kiểm trên sản phẩm | Kích thước/bố cục dự kiến, vùng mất chi tiết và mẫu cần xem thêm. |
| Bàn giao cuối | File được dùng, nơi áp dụng, người duyệt và các bản đã được thay thế. |
Trước khi gửi in, mở lại tệp cuối và đối chiếu với phiếu: những chỗ yêu cầu sửa đã đúng chưa, có mặt sản phẩm hoặc trang nào còn dùng ảnh tạm không? Giữ cả ảnh ban đầu và bản đã duyệt để lần bổ sung sau tìm lại được. Người nhận việc cần biết hình được chọn dựa trên nguồn nào và chỗ nào đã được phép thay đổi, không chỉ biết bản chỉnh trông đẹp hơn.
